Showing posts with label làm giàu. Show all posts
Showing posts with label làm giàu. Show all posts

Wednesday, April 29, 2015

Chàng trai kiếm 5 tỷ/năm từ lá cây

Trước khi trở thành tỷ phú, anh Thanh thường xuyên bị mang tiếng là "gàn dở" vì ý tưởng làm giàu trồng cây lấy lá.

Anh Đặng Văn Thanh (34 tuổi) ở xã Long Thành, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre là một người nổi tiếng “gàn dở” với mô hình kinh tế trồng cây lấy lá . Đây là một mô hình độc đáo và mang lại hiệu quả kinh tế rất cao (cho thu nhập 5 tỷ/ năm), việc mà chưa ai làm được trước đó.

Người tiên phong trồng lá cây nghệ thuật

Ở Việt Nam, chơi hoa, trưng hoa từ lâu đã không còn xa lạ. Với đặc thù khí hậu nhiệt đới ẩm, hoa ở Việt Nam rất phong phú, đa dạng, người trồng hoa, giàu lên vì hoa cũng rất nhiều. Theo xu hướng của thị trường, những bó hoa được trang trí với nhiều loại hoa, màu sắc kết hợp, và cả lá cắm kèm.

Anh Đặng Văn Thanh  trở thành tỷ phú từ trồng lá cây nghệ thuật

Hiện nay, người trồng cây lấy lá để cắm kèm còn rất hạn chế và không ai nghĩ đây là mô hình tiềm năng để mở rộng sản xuất. Bởi thế, anh Đặng Văn Thanh trồng các loại cây để lấy lá cắm trang trí với hoa bị cho là hành động kỳ quặc.

Tại vườn trồng lá rộng 2 héc ta của anh Thanh, có rất nhiều loại cây như cây huyết dụ lá nhỏ, phát tài Nhật… cho thu hoạch đều đặn lá mỗi tháng. 34 tuổi, chàng trai được cho là “gàn dở” với mô hình kinh tế “kỳ quặc” của mình cho thu nhập 5 tỷ đồng mỗi năm từ những loại cây tưởng chừng như không có mấy giá trị.

Trong khu vườn của mình, có những giống cây anh mang từ nước ngoài về, cọ Pháp là một loại cây độc đáo. Dáng cây thấp lùn và có gai, tán rộng xòe như chiếc quạt nan, xanh mướt. Vì muốn giống cọ Pháp này sống trong dáng thấp nhỏ nên anh Thanh đã nghĩ ra cách trồng chúng trong những bầu đất. Như vậy anh có thể điều chỉnh sự sinh trưởng của cây và kích thước lá phù hợp cho việc cắm hoa.

Lá cây cọ Pháp đẹp, tươi lâu khoảng từ 20 đến 25 ngày. Tuy thời gian từ lúc ươm hạt đến khi cây phát triển thu hoạch được lá khá dài (một năm), lâu hơn rất nhiều so với các loại cây khác nhưng giá trị kinh tế thu được từ cọ Pháp rất cao. Anh Thanh dành diện tích 1.000m2 để trồng 40.000 nghìn bầu cọ Pháp, mỗi tháng thu hoạch trung bình 80.000 lá và mỗi năm cho thu nhập trên 100 triệu đồng.

Là người tiên phong trong lĩnh vực trồng cây lấy lá, không có một kinh nghiệm truyền lại từ trước đó, tự mình khai phá một con đường khó đi, nhưng đến nay, anh Thanh đã thành công với sự quyết đoán của mình.

Triệu phú nơi quê nghèo

Bắt đầu lập nghiệp với mô hình trồng cây lấy lá đã hơn 10 năm, giờ đây những loại cây độc đáo trong vườn đã giúp anh Thanh trở thành tỷ phú và cùng anh tạo công ăn việc làm thường xuyên cho 15 đến 17 lao động trong vùng với mức lương khoảng 3 triệu đồng/tháng.


Từ cơ sở của chàng trai xứ dừa này, lá cây nghệ thuật “made in Thanh lá” được chuyển đi khắp mọi vùng miền trên cả nước

Loại cây cho lợi nhuận kinh tế, chiếm phần lớn diện tích đất trồng tại vườn cây của anh Thanh là cây trúc Nhật. Cây trúc Nhật dễ trồng, lại tận dụng được những khoảng đất trống trước sân nhà, trong vườn. Hơn nữa diện tích đất ở chợ Lách rất ít, những hộ nghèo càng không có nhiều đất.  Với khoảng 500m2 có thể trồng được 10.000 bầu cây, mỗi tháng cho thu hoạch khoảng 10 triệu.

Anh Thanh chia sẻ: “Trúc Nhật là loại cây dễ trồng, không cần phải tưới nước nhiều, đặc biệt, cây trúc Nhật cành càng to, dài thì mức giá bán được càng cao, không giống như cây ăn trái nếu không có thời gian thu hoạch trái sẽ rụng và bị hư, rau ăn không thu hoạch thì bị hỏng nhưng cây trúc Nhật để càng lâu giá trị kinh tế càng cao. Chỉ cần đầu tư một lần trồng, cây trúc Nhật sẽ cho thu hoạch lá trên 20 năm. Trồng trúc Nhật là một phương án thoát nghèo hiệu quả cho người dân vùng quê".

Hằng ngày, cứ khoảng 2 giờ chiều, hàng trăm hộ dân quanh vùng chuyển lá cây đến nhà anh Thanh để từ nơi tập kết này các loại lá sẽ được chia theo loại và vận chuyển đi vào 8 giờ tối cùng ngày. Các loại lá cau vàng, trúc Nhật, đinh lăng, nguyệt quế Thái,… ngày nào còn xa lạ giờ đây trở thành người bạn kinh tế hiệu quả cho người dân nơi đây, giá trị kinh tế cao gấp 5 đến 7 lần so với việc trồng cây ăn trái.

Từ cơ sở của chàng trai xứ dừa này, lá cây nghệ thuật “made in Thanh lá” được chuyển đi khắp mọi vùng miền trên cả nước, là đầu mối chính cho tất cả các cửa hàng phân phối hoa, lá nghệ thuật hàng đầu tại Hà Nội, Đà Nẵng và thành phố Hồ Chí Minh.

Anh Thanh còn gián tiếp xuất khẩu những loại lá nghệ thuật này đi nhiều nước trên thế giới như Nhật Bản, Trung Quốc, Úc, Campuchia, Lào. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu và khủng hoảng kinh tế, mô hình này là một hướng đi mới cho nhiều người dân vùng quê nghèo miền Tây.

“Từ khi anh Thanh đem lá về đây cho nhiều người dân cùng trồng, bà con có việc để làm rồi có thu nhập ổn định cho con cái học hành, có tiền chi tiêu hàng ngày mà công việc không hề vất vả. Loại cây mới nào được anh Thanh thử nghiệm thành công, anh đều cho bà con cùng trồng”- chị Nguyễn Thị Phương (ấp Hòa An - xã Long Thành - huyện chợ Lách) chia sẻ.

Con đường khai phá đầy chông gai thử thách

Cuộc sống sông nước miền Tây vốn khó khăn, anh Thanh sớm nghỉ học đi làm công để phụ giúp gia đình. Trải qua nhiều ngành nghề, cuối cùng anh chọn trồng cây cảnh, cũng chính từ đây người dân Chợ Lách bắt đầu gọi anh là Thanh “kỳ quặc” hay Thanh “gàn dở”.

Công nhân trong xưởng đang phân loại lá trước khi xuất bán

Một lần tình cờ anh đi đến một cửa hàng hoa lá tươi nghệ thuật tại thành phố Hồ Chí Minh, anh thấy hoa thì rất nhiều nhưng lá cắm kèm thì được vài ba loại. Anh Thanh vào đặt vấn đề với chị chủ quán mong muốn được cung cấp lá nghệ thuật cho cửa hàng, chưa hình dung hết về lá nghệ thuật là như thế nào nên những câu hỏi người chủ quán đặt ra cho anh, anh không thể trả lời hết.

Anh về nhà hăm hở với những thử nghiệm thú vị, anh cắt lá và ngâm chúng dưới nước để thử độ bền của lá tươi trong thời gian bao lâu. Khởi đầu chậm nhưng chắc, những loại lá anh thử nghiệm cho kết quả khả quan và dần được các cửa hàng chấp nhận. Với 10 loại lá thử nghiệm ban đầu, anh Thanh bán được có giá giao động từ 1-1,5 nghìn đồng/lá.

Sau khi nhận thấy tiềm năng của mô hình này, anh Thanh quyết định chuyển sang trồng lá nghệ thuật và kêu gọi bà con, anh em trong ấp hùn vốn cùng làm. Thế nhưng điều anh nhận lại lúc không phải là những cái gật đầu. Thời điểm này, anh Thanh nhận những cái nhìn dò xét, những nụ cười khinh khỉnh và hoài nghi của mọi người xung quanh.

Thành công đã mỉm cười khi số lượng lá ngày một tăng, lợi nhuận thu về ngày càng cao. Thế rồi từ một hai hộ dân làm theo, sau 4 năm anh Thanh đã hướng dẫn cho hàng trăm hộ trong vùng làm theo mô hình này. Anh có một thị trường riêng, có uy tín và được nhiều người biết đến. Nhưng không bằng lòng với thực tại, anh đi khắp trong Nam ngoài Bắc tìm kiếm những giống cây mới.

Với thời gian 5 năm, anh Thanh tự tin nói rằng đã tìm hết tất cả các loại lá cây nghệ thuật trong nước.
Anh tiếp tục giành hơn 2 năm để nghiên cứu những giống cây mới xuất sứ từ nước ngoài. “Bấy giờ một cây từ nước ngoài mang về trong nước đã có giá 500 nghìn đồng, hơn hẳn một chỉ vàng (430 nghìn đồng/chỉ). Tôi quết tâm đầu tư  để mua thêm được vài cây nữa, bởi nếu thử nghiệm một cây không hiệu quả thì sẽ coi như mất trắng”- anh Thanh tâm sự.

Với 10 cây giống mua được, thử nghiệm mỗi cây trong một môi trường sống khác nhau về độ ẩm, ánh sáng, phân bón, trồng cây lấy hạt, triết cành, dâm cành,… cuối cùng lần lượt cọ Pháp, trúc Nhật cho kết quả thử nghiệm thành công.

Sau mỗi lần thất bại, anh không hề nản chí, đến khi thành công, anh lại chia sẻ cho mọi người chứ không hề giấu cho riêng mình. Bây giờ, ở Chợ Lách nói riêng, và Bến Tre nói chung, “Thanh lá” được biết đến như đầu tàu vượt khó giúp bà con thoát nghèo.

Theo Dân Việt

Tuesday, April 28, 2015

Thoát nghèo nhờ nuôi cá lóc đầu nhím

Chỉ với 1.000m2 diện tích mặt nước nuôi cá lóc đầu nhím, mỗi năm anh Vũ Đình Quynh xuất bán trên 20 tấn cá thương phẩm, doanh thu cả tỷ đồng.
 
“Trước đây, cuộc sống gia đình tôi khó khăn lắm, cả gia đình 5 miệng ăn chỉ trông chờ vào vài sào lúa. Năm 2008, tôi mạnh dạn cải tạo 5 sào ruộng lúa năng suất thấp sang đào ao thả cá” - anh Quynh (Nam Định), người đầu tiên ở xã thử nghiệm nuôi cá lóc đầu nhím nhớ lại.

Lúc đầu, anh Quynh thả các giống cá truyền thống như trôi, trắm, chép, mè xuống 1.000m2 diện tích mặt nước. Không hài lòng với lợi nhuận 15 triệu đồng một năm, anh trăn trở tìm hướng làm ăn mới. Tình cờ, xem ti vi thấy nông dân các tỉnh phía Nam nuôi cá lóc cho thu nhập cao, anh liền vào Nam học hỏi và quyết định chọn giống cá lóc đầu nhím từ Đồng Tháp đem về quê nhà nuôi thí điểm.

 
Anh Quynh chăm sóc ao cá lóc đầu nhím.
 
Năm đầu tiên anh thả một vạn con giống. Nhờ chú trọng ngay từ khâu lựa chọn những con giống khỏe mạnh, kích cỡ đồng đều nên đàn cá của gia đình anh sinh trưởng, phát triển nhanh. Sau 6 tháng, anh xuất bán lứa cá đầu tiên, trừ chi phí, anh đã thu lãi 150 triệu đồng.

Năm 2015 là năm thứ 5 gia đình anh Quynh gắn bó với loại cá lóc này. Trước đó, trong năm 2014, anh Quynh đầu tư xây thêm 2 bể bê tông (mỗi bể 40m2) để gột cá giống. Sau 3 tháng, cá giống đạt khoảng 150 – 250 gram một con thì thả xuống ao to. Nuôi theo kiểu gối vụ này, mỗi năm sẽ nuôi được 2-3 lứa cá, thay vì một lứa cá so với những năm trước. Cá lóc đầu nhím thịt chắc, thơm ngon hơn và được thị trường ưa chuộng. Sau 5- 6 tháng nuôi, cá đạt trọng lượng 1-1,2kg là có thể xuất bán. Giá bán cá lóc đầu nhím dao động từ 50.000 – 55.000 đồng một kg, trong khi chi phí đầu tư cho 1kg cá từ lúc còn nhỏ đến bán chưa đầy 30.000 đồng. Như vậy, chỉ với 1.000m2 diện tích mặt nước nuôi cá lóc đầu nhím, mỗi năm anh Quynh xuất bán trên 20 tấn cá thương phẩm, doanh thu một tỷ đồng, trừ chi phí, anh lãi hơn 200 triệu đồng.

"Có thể nói nuôi cá lóc đầu nhím siêu lợi nhuận. Khó khăn lớn nhất mà người nuôi cá chúng tôi gặp phải là thiếu vốn đầu tư”, anh Quynh cho biết.

Không chỉ làm giàu cho bản thân, anh còn hướng dẫn kỹ thuật cho nhiều người trong và ngoài tỉnh muốn nuôi loại cá này. Anh chia sẻ cặn kẽ, để nuôi cá lóc đạt hiệu quả cao, trước tiên ao nuôi phải được vệ sinh sạch sẽ, tháo hết nước để phơi đáy từ 3-5 ngày, sau đó mới dẫn nước vào, duy trì mực nước sâu từ 1-1,5m. Ao nuôi phải bảo đảm thoáng gió, gần nguồn nước sạch, có cống cấp và tiêu nước thuận lợi. Quá trình nuôi dưỡng luôn giữ môi trường nước ao sạch sẽ, hằng ngày theo dõi cá ăn để điều chỉnh lượng thức ăn cho phù hợp nhằm phòng tránh gây ô nhiễm môi trường, dịch bệnh cho cá do lượng thức ăn thừa tồn dư trong ao.

Theo Dân Việt

Sunday, April 26, 2015

Trồng cam Sơn Lang thu bạc tỷ

Mang giống miền Bắc về Tây Nguyên thử nghiệm từ năm 1993, nay vợ chồng ông Trần Công Lâm (Gia Lai) trồng được 2 hecta cam, thu về gần 2 tỷ đồng mỗi năm.

Khu trang trại nhỏ của vợ chồng ông Trần Công Lâm nằm giữa đồi núi thuộc xã Sơn Lang, huyện Kbang, tỉnh Gia Lai với những màu xanh ngắt của cây ăn quả. Ông Lâm nổi tiếng khu này nhờ trồng cam Sơn Lang.

Gia đình ông Lâm bắt đầu trồng cam từ năm 1993, ban đầu chỉ là 20 cây cam sành, cam đường được ông đưa giống từ Bắc Giang vào trồng thử nghiệm trong vườn nhà. Phép thử mang lại bất ngờ khi cây cam xứ Bắc trồng trên đất Tây Nguyên vẫn cho năng suất, chất lượng không thua kém so với ở vùng bản xứ. Thích nghi với khí hậu, thổ nhưỡng, cây cam trên đất Sơn Lang cho quả to và đẹp.

Hiện vườn nhà ông Lâm đã có khoảng 600 cây cả cam và quýt (tương đương 2ha), trong đó có 500 cây đang cho thu hoạch. Khi quả chín rộ, thương lái đến tận nơi, có bao nhiêu mua hết bấy nhiêu. “Mỗi năm gia đình thu được chừng 60 tấn cam và quýt tươi, giá bán ngày thường 25.000-30.000 đồng/kg, lễ tết có khi 45.000-50.000 đồng. Trung bình cũng thu được bạc tỷ nhờ loại cây này”, ông Lâm tiết lộ.


Hơn 20 năm gắn bó với cây cam, ông Lâm chia sẻ, trồng cam không khó, chỉ cần bón nhiều phân chuồng, tưới tiêu đều đặn để giữ độ ẩm cần thiết cho cây sinh trưởng, phát triển. Điều kiện tự nhiên ở Sơn Lang còn khá hoang sơ, trong lành nên rất ít bị sâu bệnh. Đất tốt đã tạo điều kiện cho cam đạt năng suất khá cao.
Ông Lâm chỉ những quả cam Sơn Lang chín rộ. Ảnh: Nông Nghiệp Việt Nam

  Cam có thể thu hoạch quanh năm nên nhà vườn chỉ cần theo sát cây, tỉa bớt trái và giữ lại lượng vừa đủ để cây nuôi dưỡng là có thể đảm bảo đạt năng suất ổn định. So với đầu tư cà phê, trồng cam cũng sẽ tốn kém gấp 3-4 lần nhưng bù lại, cam là loại cây trồng mang lại giá trị kinh tế cao hơn hẳn. Ông Lâm nhẩm tính, cà phê ở Sơn Lang thông thường chỉ đạt chỉ đạt 10-15 tấn tươi/ha. Nếu giá như hiện tại sẽ được khoảng 70 triệu đồng/tấn. Trong khi đó, cam có thể đạt 30 tấn/ha, mỗi ha thu về hơn 800-900 triệu đồng. 

“Đúng vụ tôi thu được những trái cam nặng 0,8-0,9kg/trái là bình thường. Trái mùa quả cũng đạt tối thiểu 0,3-0,5kg/trái. Cam màu vàng, thơm, vị ngọt đậm đà, ngay cả phần cùi cam cũng có vị ngọt bùi… Thương lái rất thích”, ông Trần Công Lâm kể.

Phó chủ tịch UBND xã Sơn Lang, Dương Quốc Điệp, cho biết hiện nay, trên địa bàn xã Sơn Lang đã phát triển được trên 10 ha cam, trồng từ cách đây trên 10 năm và hiệu quả đã được kiểm chứng thực tế khá rõ ràng. Các hộ trồng cam chủ yếu là người Kinh từ miền Bắc vào Tây Nguyên lập nghiệp, mang theo các giống cam đặc sản quê hương.

Từ những ưu thế vượt trội của cam Sơn Lang, chính quyền xã Sơn Lang đã tính đến chủ trương nhân rộng loại cây trồng này. Trước mắt, xã lên kế hoạch trong năm nay sẽ phát triển thêm khoảng 10 ha cam, chủ yếu trong đối tượng người Kinh, vì cây cam đòi hỏi vốn đầu tư lớn, trình độ và kỹ thuật canh tác phải đạt đến mức độ nhất định.

  Chính quyền địa phương cũng lồng ghép chủ trương này gắn với việc thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới, hỗ trợ vốn 30 triệu đồng/ha cam cho hộ nào chọn hướng đi này và dự kiến đề nghị huyện xây dựng  thương hiệu cam Sơn Lang.

"Tất nhiên sẽ còn nhiều khó khăn, song nếu phát huy tốt, đây chắc chắn là loại cây trồng tương lai sẽ làm giàu cho không ít hộ ở Sơn Lang và là điều kiện quan trọng để thúc đẩy việc phát triển cây cam theo hướng bền vững, mở rộng thị trường”, ông Điệp nói.

Theo Nông Nghiệp Việt Nam

Saturday, April 25, 2015

Nuôi nai lấy nhung nhỏ gọn cho doanh thu khá

Nuôi theo mô hình nhỏ gọn và chỉ được coi là nghề phụ, nhưng khai thác nhung nai mang lại doanh thu gần 100 triệu đồng mỗi năm cho gia đình anh Lê Thanh Long ở Bình Định.
 
Năm 2007, khi đang là cán bộ khuyến nông kiêm thú y xã, anh Long ở thôn Kim Sơn, xã Ân Nghĩa, huyện Hoài Ân (tỉnh Bình Định) tình cờ biết đến mô hình nuôi nai lấy nhung của người bạn ở xã Ân Tín.

“Bạn tôi chỉ làm một chuồng nhỏ với 5 con nai, trong đó có 4 con đã cho thu hoạch. Khi thu hoạch nhung, thương lái mua với giá 21 triệu đồng một kg, tôi thấy quá hấp dẫn nên quyết định chuyển đổi mô hình chăn nuôi của gia đình", anh kể.

Bán hết heo thịt và nhím đang nuôi, anh Long vay mượn thêm xây chuồng trại và mua nai giống. Con nai giống 40 kg đầu tiên anh mua có giá 17 triệu đồng. Ba năm sau, bán lứa nhung đầu tiền, anh mới thanh toán xong khoản tiền vay mượn ban đầu.

Nhận thấy mô hình khả quan, năm 2008 anh Long mua tiếp một cặp nai giống (một đực, một cái) của trại nuôi ở phường Ghềnh Ráng, TP Quy Nhơn với giá 39 triệu đồng. Một năm sau đó, hai con đực giống cho thu lứa nhung đầu tiên, riêng con cái làm nhiệm vụ sinh sản.

 
Số nai đến tuổi thu nhung của gia đình anh Long
 
Vừa nuôi, vừa tăng đàn đến năm 2012, số nai của gia đình anh Long tăng lên 6 con, 5 con đực thu nhung, một con cái sinh sản. Theo anh Long, dù chưa có nhiều sách phổ biến quy trình nuôi nai, nhưng qua gần 8 năm chăn nuôi, anh nhận thấy nuôi nai không quá phức tạp.

Theo cựu cán khuyến nông này, thức ăn của nai chủ yếu là các loại lá rừng, bổ sung thêm cỏ và cám. Mỗi ngày nai ăn hai bữa, sáng và chiều tối. Lá 'khoái khẩu' nhất của nai là sung, mít. Cứ 10 ngày cho ăn cỏ, 20 ngày cho ăn lá rừng. Chuồng trại đầu tư đơn giản, mỗi con được nuôi trong một ô, đảm bảo vệ sinh, thức ăn và nước uống. Nai khoảng 4 tuổi bắt đầu cho thu hoạch, mỗi năm cho thu nhung hai lần vào tháng 8 và tháng 11 dương lịch. Tuy nhiên, đảm bảo sức khỏe cho nai, chỉ nên thu nhung một lần vào tháng 11. Số nhung tăng lên theo thời gian và độ tuổi của nai. Muốn đảm bảo số lượng nhung, phải giữ được khẩu phần thức ăn tốt cho nai.

Theo anh Long, nai rất nhát, đến kỳ thu nhung phải hết sức cẩn thận. Muốn thu nhung nai an toàn cần có dụng cụ cùng 7 người cùng giúp việc. Sau khi thu nhung, phải cầm máu, sát trùng và đưa nai vào lại chuồng sau gần một giờ đồng hồ. Nai ít bị dịch bệnh, nên chủ yếu phòng bệnh lở mồm long móng. Một vòng đời của nai trung bình dài 30 năm.

Ngoài việc nuôi nai lấy nhung, anh Long còn nhân giống bán. “Năm 2013, tôi bán một cặp nai giống với giá 65 triệu đồng. Năm 2014, bán 3 nai đực giá 83 triệu. Hiện tại tôi còn 5 năm con, 4 con đực và một con cái. Nhung nai thời điểm này dù giá chỉ còn 15 triệu đồng một kg, nhưng bình quân mỗi năm thu nhập từ nhung và nai giống trên 50 triệu đồng, có lúc lên tới 100 triệu", anh Long chia sẻ và cho rằng nuôi một con nai bằng nuôi hai con bò.
 Theo Vnexpress

Ông chủ trẻ kiếm doanh thu hơn 70 tỷ đồng từ gạch 6 lỗ

Do khó khăn đầu ra, ngay từ năm 2 đại học, Nguyên đã mang sản phẩm gạch đặc biệt của gia đình đến các cửa hàng, công trình ở Đà Nẵng để tiếp thị. 

35 tuổi, Trần Khắc Nguyên (ngụ TP Quảng Ngãi) hiện đã là ông chủ của hai nhà máy gạch Tuynel và một nhà máy gạch không nung quy mô lớn ở khu vực miền Trung. 

Sinh ra trong gia đình sản xuất gạch nung truyền thống, Nguyên thấu hiểu nỗi trăn trở, lo âu của cha mẹ khi sản phẩm làm ra khó tiêu thụ. Ngay từ lúc là sinh viên năm 2 Đại học Bách khoa, chàng trai trẻ đã lặng lẽ mang từng viên gạch của gia đình đến các cửa hàng vật liệu xây dựng, công trình vừa động thổ ở Đà Nẵng... tập tành giới thiệu.

Lúc ấy, người dân nơi đây hầu hết dùng gạch bốn lỗ để xây dựng nên khi thấy chàng sinh viên tiếp thị gạch sáu lỗ, họ đều lắc đầu. Suốt cả năm trời, Nguyên đi khắp các tuyến đường, con hẻm tư vấn, thuyết phục và để lại sản phẩm cho người dân dùng thử nghiệm. Dần dần, người dân nơi đây thấy rõ ưu thế của viên gạch sáu lỗ với mẫu mã đẹp lại bền chắc, tiết kiệm được công xây dựng và tốn ít xi măng hơn nên bắt đầu lựa chọn, tin dùng, nhưng vẫn với số lượng nhỏ.

 
Trần Khắc Nguyên (phải) đang kiểm tra sản phẩm  tại nhà máy gạch Tuynel Phú Điền 2 có công suất 50 triệu viên mỗi năm. Ảnh:Trí Tín.
 
Giữa lúc khó khăn ấy thì năm 2002, chính quyền Đà Nẵng chủ trương giải tỏa, mở rộng thành phố xây dựng các khu đô thị, tái định cư cho người dân nên có nhu cầu tiêu thụ gạch rất lớn. Nắm bắt cơ hội này, Nguyên mạnh dạn mở văn phòng, lập hệ thống phân phối bắt đầu đưa gạch của gia đình và nhiều lò gạch khác ở Quảng Ngãi ra đây tiêu thụ. 

Chàng sinh viên còn nhớ như in, sau giờ học ở giảng đường, anh lần tìm đến cảng biển Sông Thu (Đà Nẵng) làm quen với các tài xế xe tải. "Tôi bàn bạc với các lái xe sau khi chở xi măng vào Quảng Ngãi, thay vì xe ít có hàng về thì hợp tác chở gạch để tăng thêm thu nhập. Nghe nói vậy họ vui vẻ đồng ý chở sản phẩm theo đơn đặt hàng của mình", Nguyên bộc bạch. 

Năm 2004, tốt nghiệp đại học, Nguyên tiếp tục ở lại Đà Nẵng để tập trung nâng sản lượng tiêu thụ gạch, tìm hiểu thị trường, đồng thời phát triển hệ thống phân phối sơn và bột trít tường. Trong lúc công việc đang "thuận buồm, xuôi gió" thì năm 2006, cơn bão Chanchu bất ngờ ập tới đánh sập toàn bộ nhà xưởng, làm hỏng hàng chục tấn sơn, bột trít tường. Bão dữ đi qua, anh thu dọn nhà xưởng, thất thểu quay về quê Quảng Ngãi gây dựng lại từ đầu.

Nghĩ là làm, Nguyên cùng gia đình chạy vạy vay thêm vốn, lo thủ tục, hồ sơ xây dựng nhà máy gạch Tuynel với công suất 10 triệu viên mỗi năm ở xã Nghĩa Thắng, huyện Tư Nghĩa. Suốt nhiều năm dài xây dựng, làm thủ tục kiến nghị địa phương quy hoạch vùng nguyên liệu để sản xuất gạch, chàng kỹ sư trẻ mất ăn, mất ngủ.

Nguyên thuật lại, cuối năm 2007, nhà máy đưa vào vận hành thì dây chuyền vẫn không chạy ra được gạch bán thành phẩm. "Lúc ấy, tôi và anh em công nhân lo lắng tột độ. Hì hục suốt hai ngày đêm thì phát hiện, khắc phục một số lỗi gây trục trặc trong hệ thống dây chuyền. Sau đó, sản phẩm ra ổn định trong tiếng reo hò vui sướng của mọi người.

Dây chuyền sản xuất tại nhà máy gạch Tuynel Phú Điền 2. Ảnh: Trí Tín.

Lô gạch đầu tiên ra lò thành công, Nguyên quyết định phát triển thương hiệu nhà máy gạch với tên gọi "Phú Điền" với hàm nghĩa mảnh đất trù phú. Năm 2008, các tỉnh khu vực miền Trung rộ lên phong trào xây dựng công trình, nhà ở đã tạo nên "cơn sốt" gạch chưa từng có. Để kịp đáp ứng thị trường, anh đã không ngừng đầu tư thêm dây chuyền, mở rộng quy mô, nâng công suất lên 25 triệu viên mỗi năm và tiếp tục tăng gấp đôi lên 50 triệu viên một năm sau đó nhằm kịp đáp ứng nhu cầu xây dựng nhà máy lọc dầu Dung Quất và nhiều công trình khác. 


Thành công nối tiếp thành công, Nguyên mạnh dạn gom góp vốn liếng và vay thêm ngân hàng mua lại nhà máy gạch không nung ở Khu kinh tế Dung Quất. Sau đó, anh sửa chữa và nâng cấp công suất lên 20 triệu viên, 5 triệu m2 gạch vỉa hè mỗi năm. Năm 2010, anh tiếp tục xin phép, lập thủ tục đầu tư nhà máy gạch Tuynel Phú Điền 2 tại xã Hành Minh (huyện Nghĩa Hành) với công suất 50 triệu viên mỗi năm.

Hiện, ba nhà máy gạch của ông chủ trẻ này tạo việc làm, thu nhập ổn định cho hơn 350 lao động. Mỗi năm ba nhà máy cung ứng cho thị trường miền Trung 120 triệu viên gạch Tuynel không nung và 5 triệu m2 gạch lát vỉa hè, doanh thu hơn 70 tỷ đồng. "Hạnh phúc của nghề làm gạch là sản phẩm của mình làm ra được người dân, chủ sở hữu các công trình từ làng quê đến thành phố lớn tin tưởng sử dụng", anh Nguyên thổ lộ.

Theo Vnexpress

Kỹ sư cơ khí thu hơn 7 tỷ đồng từ nuôi lợn, gà sạch

Gác lại tấm bằng kỹ sư cơ khí, Hải mượn bạn bè 70 triệu đồng và quyết định rời Hà Nội lên Vĩnh Phúc nuôi lợn gà sạch. Sau hơn 7 năm, trang trại của anh đã cho doanh thu trên 7 tỷ đồng một năm

Mạc Tuấn Hải (28 tuổi) sinh ra và lớn lên tại Hà Nội, rồi học Đại học Công nghệ Giao thông Vận tải chuyên nghành cơ khí sửa chữa ôtô. Hải tâm sự, ngày xưa rất yêu thích các động cơ bốn bánh, thuộc làu làu công suất, các tính năng của từng loại xe.

Tuy nhiên, trong quá trình tham gia các hoạt động tình nguyện khắp các tỉnh thành phía Bắc, Hải quen và giao lưu cùng nhiều tấm gương đang làm trang trại thành công. Sau này anh trở lại tham quan, tìm hiểu và rồi niềm đam mê cũng ngấm dần từ đó. "Từ chỗ mê bốn bánh, tôi đã chuyển sang mê 4 chân và 2 chân từ lúc nào không hay", anh cười nói.
Trang trại chăn nuôi lợn, gà sạch của chàng kỹ sư trẻ đang cho doanh thu trên 7 tỷ đồng mỗi năm.
Năm 2007, sau khi tốt nghiệp, thay vì vào làm ở các công ty ôtô lớn thì Hải quyết định phóng chiếc xe máy cà tàng đi lang thang tìm hiểu kỹ hơn các trang trại nuôi lợn và gà đồi, rồi thường xuyên sang Đại học Nông nghiệp học hỏi, tham khảo ý kiến các thầy, chuyên gia về chăn nuôi.

Cuối năm 2007, tình cờ Hải đi qua vùng Lập Thạch, Vĩnh Phúc, thấy nơi đây còn hoang vu rất thích hợp làm trang trại nên anh đã quyết định dừng chân để thực hiện kế hoạch ấp ủ bấy lâu. "Cũng nhờ lập nghiệp ở mảnh đất này mà tôi có duyên làm rể tại đây", anh vui vẻ nói.

Lúc mới làm, Hải mượn bạn bè 70 triệu đồng để nuôi thử nghiệm 20 con lợn rừng. Từ năm 2013, anh mới bắt tay vào đầu tư phát triển mạnh về nuôi gà và lợn sạch với số vốn bỏ ra gần 2 tỷ đồng, trong đó vay ngân hàng là 900 triệu đồng (vay từ 2 sổ đỏ, một của bố mẹ đẻ, một của bố mẹ vợ).

Thời gian đầu, do kinh nghiệm còn ít nên Hải gặp rất nhiều khó khăn như lợn, gà còi cọc do thiếu dinh dưỡng. Đặc biệt, sản phẩm bán ra thị trường rất ít, do chưa tìm được khách hàng, trong khi chi phí chăn nuôi hàng ngày phải bỏ ra không hề nhỏ. Có những lúc anh chàng kỹ sư trẻ cảm thấy mệt mỏi, kiệt sức và muốn bỏ cuộc.

Nhưng với quyết tâm đeo bám niềm đam mê, rồi mọi sóng gió cũng trôi qua, Hải dần có kinh nghiệm hơn trong cách chăm sóc gà, lợn. Đàn vật nuôi của anh phát triển tốt hơn, đầu ra sản phẩm cũng khá ổn. Hiện tại, tổng đàn của trang trại Hải có hơn 7.000 con gà, 2.000 lợn, chủ yếu cung cấp cho các nhà hàng và tổ chức có nhu cầu mua nguyên con để liên hoan. Nhờ quy trình nuôi chặt chẽ và chăn thả hoàn toàn tự nhiên, nên chất lượng thịt lợn rừng của Hải được các nhà hàng tin tưởng và ưa chuộng.

Hải cho biết, giá gà thương phẩm bán lẻ ra thị trường của anh hiện dao động 220.000 đồng mỗi kg, còn giá thịt lợn trung bình 120.000 đồng một kg. Theo Hải, giá tuy cao hơn ở chợ khoảng 20% nhưng sản phẩm rõ ràng, nguồn gốc xuất xứ, quy trình chăn nuôi sạch cộng với chất lượng nên các sản phẩm thịt gà, lợn và trứng của anh đang bán rất chạy tại các đại lý cửa hàng thực phẩm sạch, đặc biệt là phản hồi tốt từ khách hàng đặt mua online.

Hệ thống đại lý phân phối các sản phẩm của trang trại Hải hiện đã lên tới hơn 20 cửa hàng và còn tiếp tục mở rộng. Bên cạnh đó, kênh bán hàng online qua website, mạng xã hội, các diễn đàn lớn cũng được anh chú trọng và tập trung phát triển. Năm vừa qua, trang trại này đã được cấp chứng nhận VietGap và được tham gia vào chuỗi cung cấp thực phẩm an toàn, rõ nguồn gốc xuất xứ của tỉnh Vĩnh Phúc.

Ông chủ trang trại trẻ này thông tin thêm, hiện nay, sản lượng bán ra trung bình mỗi ngày của trang trại là 40 con gà và hơn 100 kg thịt lợn. Doanh thu trung bình mỗi tháng hơn 600 triệu đồng, tức mỗi năm khoảng 7,2 tỷ đồng. Tuy nhiên, do chi phí đầu tư cho chăn nuôi sạch, khu giết mổ và đóng gói đủ điều kiện vệ sinh an toàn thực phẩm cùng hệ thống vận chuyển hàng từ Vĩnh Phúc xuống Hà Nội khá cao nên lợi nhuận hiện tại chỉ đạt khoảng 10%. "Trong thời gian tới, khi mở rộng thị trường và chạy hết công suất, chắc chắn tỷ suất lợi nhuận sẽ tăng thêm", Hải kỳ vọng.

Nhờ việc kinh doanh thuận lợi, năm vừa rồi Hải đã có thể trả một phần nợ ngân hàng và lấy ra được một sổ đỏ cho gia đình. Hiện tại, anh còn nợ khoảng 500 triệu đồng và hy vọng năm sau sẽ giải quyết xong.

Để đạt được thành công ban đầu như ngày hôm nay, theo Hải thì chất lượng sản phẩm luôn phải được đặt lên hàng đầu. Và đó là thành quả của việc mạnh dạn đầu tư, áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất mà cụ thể ở trang trại của anh là việc ứng dụng công nghệ EM (hệ vi sinh vật hữu ích) của Nhật Bản vào việc lên men để phối trộn thức ăn chăn nuôi hàng ngày từ nguồn tự nhiên như: ngô, thóc, cám gạo, đỗ tương… Tuy chi phí có cao hơn chăn nuôi thông thường, nhưng lợn, gà ăn vào sẽ khoẻ mạnh hơn, chất lượng thịt cao hơn, đồng thời cũng đáp ứng yếu tố sạch mà Hải đang theo đuổi.

Theo Vnexpress

Friday, April 24, 2015

Trồng 100m2 rau rừng, thu hơn 40 triệu đồng một năm

Ba loại rau rừng là bầu đất, lỗ bình và cần dại đang được thu mua với giá trung bình 30.000 đồng một kg.
 
Trung tâm nghiên cứu quốc tế Rừng nhiệt đới - Vườn quốc gia Bidoup Núi Bà (Lâm Đồng) vừa thử nghiệm mô hình sản xuất các loại rau rừng theo hướng thương mại. Đây là cơ hội mới cho nông dân khi các loại nông sản khác luôn trong cảnh giá cả bấp bênh, thị trường thiếu ổn định.

Thạc sĩ Tôn Thất Minh, Giám đốc Trung tâm cho biết bắt đầu triển khai trồng các giống rau rừng từ tháng 8/2014. Trên diện tích 100m2, chỉ sau gần 2 tháng, rau rừng đã cho thu hoạch với sản lượng gần 200kg mỗi tháng. Rau rừng đang được các nhà hàng ưa chuộng và mua với giá 30.000 đồng một kg.

Theo ông Minh, việc trồng thử nghiệm rau rừng của Trung tâm quốc tế Rừng nhiệt đới – Vườn quốc gia Bidoup Núi Bà là trên cơ sở tiếp nối đề tài “Nghiên cứu tuyển chọn và xây dựng mô hình trồng một số loại rau rừng tại Lâm Đồng" do thạc sĩ Lương Văn Dũng (Đại học Đà Lạt) làm chủ nhiệm. Đề tài nghiên cứu này đã được Sở Khoa học công nghệ Lâm Đồng kiểm định và đánh giá. Ban đầu nhóm nghiên cứu thử nghiệm khá nhiều loại rau rừng, nhưng kết quả chỉ chọn ra 3 loại là bầu đất, lỗ bình và cần dại. Đây là những loại rau phù hợp và thích nghi với môi trường, điều kiện khí hậu của Lâm Đồng, có thể sản xuất đại trà như các loại rau thương phẩm khác.

Mô hình trồng rau rừng tại Trung tâm quốc tế Rừng nhiệt đới khá đơn giản, vì diện tích ban đầu chỉ 100m2 đất nên chỉ cần một công nhân phụ trách. Rau rừng ở đây được trồng cả trong nhà kính và môi trường tự nhiên bên ngoài để đối chứng sự sinh trưởng, khả năng thích nghi, sản lượng thu hoạch. Riêng việc nhân giống khá dễ dàng, có thể dùng phương pháp nuôi cấy mô hoặc đơn giản hơn là giâm nhánh với chi phí đầu tư ban đầu không cao.

Thạc sĩ Tôn Thất Minh cho biết, với 100m2 đất nếu làm trong nhà kính thì đầu tư ban đầu khoảng 20 triệu đồng, trong đó tiền nhà, hệ thống tưới tự động hết 15 triệu đồng, 5 triệu đồng còn lại là tiền cây giống và phân vi sinh. Còn nếu làm ngoài môi trường tự nhiên thì chỉ cần đầu tư 5 triệu đồng.

Kết quả trồng thử nghiệm dạng thương phẩm tại Trung tâm cho thấy, nếu trồng ngoài môi trường tự nhiên, sản lượng rau rừng chỉ bằng 80% so với trồng trong nhà kính và thời gian sinh trưởng chậm hơn khoảng 3 ngày. Hiện tại, 100m2 đất trồng rau rừng ở Trung tâm quốc tế Rừng nhiệt đới cho thu hoạch đều đặn mỗi tháng gần 200kg, rau làm ra được các nhà hàng ở Đà Lạt và TP HCM tiêu thụ với giá 30.000 đồng một kg, đem lại doanh thu khoảng 6 triệu đồng một tháng và tính ra mỗi năm thu hơn 40 triệu đồng.

Cây rau rừng vốn dĩ rất khỏe, sức đề kháng mạnh, do đó việc chăm sóc không quá cầu kỳ và gần như không phải dùng các biện pháp phun xịt thuốc bảo vệ thực vật. Trong tương lai, Trung tâm quốc tế Rừng nhiệt đới - Vườn  quốc gia Bidoup sẽ có hướng chuyển giao kỹ thuật cho nông dân.

 Theo Vnexpress